Hoạ tiết hình chim phượng hay con phụng

Trong số các mô típ để trang trí nhà gỗ, con vật là mô típ được các nghệ nhân sử dụng nhiều, trong đó họa tiết hình chim phượng hay con phụng được sử dụng phổ biến.

Chim Phụng trong quan niệm người xưa

Theo truyền thuyết Trung Hoa, chim phụng có nhiều phẩm hạnh cao đẹp: “tiếng hót ngân khắp ngũ âm, lông trang điểm ngũ sắc, thân thể biểu tượng cho sáu thứ: đầu tượng trời, mắt tượng thái dương (mặt trời), lưng tượng thái âm (mặt trăng), cánh tượng gió, chân tượng đất và đuôi tượng tinh tú.” Các vẻ đẹp và phẩm hạnh đó xứng là vua các loài chim, nó thường đậu trên cây ngô đồng. Chim phụng chỉ xuất hiện vào thời thái bình và ẩn mình khi thời loạn lạc. Nên phụng là biểu tượng cho thái bình.

Những tín ngưỡng đó xa lạ đối với người An Nam, họ chỉ biết duy nhất một điều: chim phụng là biểu tượng cho sự kết hợp giữa người nam và người nữ, tức hôn nhân. Liên quan đến khái niệm này, có một tích xưa: Chuyện kể có hai người nam và người nữ xinh đẹp tuyệt trần, tâm đầu ý hợp với nhau ; người nam là một vị tiên và người nữ vốn là phụng. Vị tiên từ trời bay xuống hòa duyên cùng phụng. Hay là tích long phụng hòa duyên; trong bức vẽ long là người chồng và phụng là người vợ. Hình vẽ con rồng và con phụng vờn quanh chữ song hỉ, cũng là biểu tượng của hôn nhân, của hạnh phúc lứa đôi.

Trong ca dao cũng thường thấy biểu tượng này: “Anh như cột mít chạm rồng/ Em như kèo phụng gác trong đình chùa” Hay là lời cao ngạo, khinh rẻ: “Trúc xinh không mọc cùng tre/Gà nòi lớn xác chẳng tề phụng loan”.

Họa tiết đục chạm chim phượng
Họa tiết đục chạm chim phượng

Ý nghĩa về hình ảnh chim phụng trong nhà gỗ

Hình ảnh chim phụng biểu tượng cho người phụ nữ. Chính vì vậy phụng thường trang trí ở các gờ mái trong những đền thờ nữ thần, và nơi này các bình phong cũng chạm vẽ hình chim phụng thay vì con rồng. Hình phụng cũng thấy trang trí trên trán bia hay viền khung bia mộ của các công chúa, rồi lại thấy ở giường chạm hay hộp đựng ấn của nữ giới. Nhưng cũng chẳng gì ngăn cấm được người nghệ sĩ dùng mô-típ này trang trí đồ gỗ hay dinh thự bình thường như hình trang trí phụ. Nhìn chung khi thấy chim phụng dùng làm họa tiết chính trên đồ vật thì biết đó là món dành cho phụ nữ.

Loài chim này có hai tên gọi: con trống gọi là phụng và con mái gọi là hoàng; gộp lại gọi là phụng hoàng. Nhưng thông thường người An Nam gọi gọn là phụng mà thôi. Chim mái còn có tên khác ‘loan’, nên gọi là phụng loan. Theo truyền thuyết Trung Hoa và người An Nam đón nhận, tiếng kêu của loài chim này biểu lộ sự ứng họa của cặp tình nhân, của hạnh phúc lứa đôi. Cho nên hình ảnh chim phụng vừa là lời cầu chúc vừa nói lên sự gắn bó vợ chồng.

Còn về tổng quan chim phụng là biểu tượng thái bình như đã nói ở trên. Nên trong cung điện cũng có hình chim phụng để phỉnh nịnh ca tụng vua chúa đang sống thời thái bình thịnh trị vì có chim phụng xuất thế.

Như đã trình bày ở trên, trong kiến trúc hình ảnh chim phụng được dùng để trang trí dấu nhấn trên các gờ mái trong các đền thờ nữ thần. Nhưng cũng thấy ở các đền khác và trong cung điện nhưng chỉ là thứ yếu và nhường vị trí chính yếu cho con rồng, phụng chỉ thấy ở đầu hồi. Hoe61m hơn, phụng được thay thế cho vị trí của con dơi (hình CLIX). Ở lăng mộ các công chúa thay vì con rồng người ta dùng hình phụng để trang trí trán bia hay viền quanh bia. Cuối cùng còn thấy vẽ hay chạm trên các tấm chi tiết đồ gỗ, trên nắp hộp, trên bình phong lụa, trên thành bộ ván (hình CLXXII), cũng như làm trang trí dấu nhấn ở đèn, giá đỡ chậu, … (hình CLXXI).

Phụng còn có những biến cách (hóa), thường nhất là đào hóa phụng, nhưng cũng thấy hoa mẫu đơn hóa phụng (hình CLXXII). Hoặc nhánh cúc hay quả na, hoa lan (hình CLXXIII) kết hợp với họa tiết phụng. Hình phụng ít dùng vì khó dát hơn rồng, khó ngang với hình lân, dù rằng tính mảnh dẻ và nét trang trọng hết sức thích hợp.

Ở Bắc Kỳ, trước các ngôi đền thường thấy bốn chim phụng không đuôi trên các đỉnh cột. Rất mỹ thuật, nhưng tôi chẳng biết nó mang ý nghĩa gì đối với người An Nam. Với công dụng trang trí tương tự, dĩ nhiên í trang trọng và nhẹ nhàng hơn, người ta dùng họa tiết cụm lá ô-rô thay vào (hình CXVII, CXVIII).

Có một con chim tương tự khác gọi là hạc. Lưu ý là hình dáng hạc với phụng, cũng như tính biểu tượng, khác xa nhau. Hạc luôn có đôi cánh xếp lại và tạc đứng (thường đứng trên con rùa) dùng làm món đồ thờ. Miệng hạc ngậm một cánh hoa, thường là một đôi trước bàn thờ thần hay bàn thờ tổ tiên. Hạc không thấy dùng làm họa tiết trang trí.

Hình như theo người Trung Hoa có hạc đen, hạc vàng và hạc xanh nữa, nhưng người An Nam chỉ dùng hạc trắng và màu lông trắng đó tượng trưng cho tuối thọ. Người Trung Hoa cũng như người An Nam đều tin chim hạc có tuổi thọ cao, người Trung Hoa cho rằng khi đến 160 tuổi lông hạc biến thành màu đen, lúc đó gọi là huyền hạc. Để chỉ người già người ta hay dùng thành ngữ “da mồi tóc hạc”, nghĩa là tóc bạc trắng như lông hạc và da nhăn nheo như vảy đồi mồi.

Thêm nữa, hạc là vật cưỡi của chư tiên, điều này được đánh đồng là chúng trường sinh bất tử? Vì thế hạc còn có tên “tiên điểu” (chim của tiên) Ở Trung Hoa người ta làm đồ vàng mã có những con hạc giấy để đốt cúng, với lời cầu mong người chết cỡi nó bay lên trời. Rùa là một biểu tượng khác của sự trường thọ nên thường đi đôi với hạc (hình CLXXIV). Chim hạc không có biến cách từ họa tiết khác, nhưng ở Trung Hoa hạc đôi khi được nhân cách hóa thành Thọ Tinh và đi chung với chữ thọ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *